🎉 Khai giảng lớp HSK4 ngày 8/6  — Ưu đãi 40% học phí Xem ngay
Yểm nhĩ đạo linh

掩耳盗铃

yǎn ěr dào líng
Yểm nhĩ đạo linh
Chữ Hán:
Yểm nhĩ đạo linh — 掩耳盗铃

📖 Nghĩa

Bịt tai trộm chuông, Tự lựa mình dối người

🔍 Giải thích chi tiết

掩: Bịt; 耳: Tai; 盗: Trộm cắp; 铃: Cái chuông. Nghĩa đen: Bịt tai mình lại rồi đi trộm chuông, tưởng rằng không nghe thấy tiếng chuông thì người khác cũng không nghe thấy. Nghĩa bóng: Chỉ tự lừa dối bản thân, cố tình che giấu sự thật, nghĩ rằng như vậy sẽ che mắt được người khác, thực chất chỉ khiến mình càng thêm nực cười. Thành ngữ mang sắc thái châm biếm và phê phán, thường dùng để chỉ những người cố tình làm chuyện xấu rồi tìm cách ngụy biện hoặc trốn tránh, hoặc tự an ủi bằng cách phủ nhận sự thật hiển nhiên.

💬 Ví dụ & Câu mẫu

有的人明明公司亏损严重,还掩耳盗铃地对外宣称盈利。
→ Có người rõ ràng công ty đang thua lỗ nặng, mà vẫn ""bịt tai trộm chuông"" đi tuyên bố với bên ngoài là có lãi.
他以为删除证据就能瞒天过海,简直是掩耳盗铃。
→ Anh ta tưởng xóa bằng chứng là có thể che giấu tất cả – thật đúng là bịt tai trộm chuông.
有些企业只会粉饰报表,掩耳盗铃,终究逃不过审计。
→ Một số doanh nghiệp chỉ biết tô vẽ báo cáo – đúng kiểu tự bịt tai trộm chuông, cuối cùng vẫn không thoát được kiểm toán.
他在考试中作弊,还想瞒住老师,完全是掩耳盗铃。
→ Anh ta gian lận trong kỳ thi rồi nghĩ có thể giấu giáo viên – hoàn toàn là bịt tai trộm chuông.

📜 Điển tích · Xuất xứ

Có nguồn gốc từ thiên “Tự tri” (自知), trong sách Lữ thị Xuân Thu (吕氏春秋) của tác giả Lữ Bất Vi (吕不韦) thời Chiến Quốc (战国): “范氏之亡也,百姓有得钟者,欲负而走,则钟大不可负。以锤毁之,钟况然有音。恐人闻之而夺己也,遽掩其耳。” (Họ Phạm diệt vong, có người dân nhặt được cái chuông, muốn vác chạy mà chuông to không vác nổi. Bèn lấy búa đập, chuông liền vang lên. Sợ người khác nghe rồi tới cướp, hắn vội bịt tai mình lại.)

Xưa có một người đàn ông tính tình vốn tham lam. Một hôm, hắn nghe tin họ Triệu ở nước Tấn đã tiêu diệt họ Phạm, liền vội vàng chạy đến nhà họ Phạm, định nhân lúc hỗn loạn tranh thủ kiếm chác. Nào ngờ của cải nhà họ Phạm đã bị cướp sạch từ trước, hắn vô cùng tiếc nuối, hối hận vì đã mất công chạy đến uổng phí.

Bỗng nhiên, hắn phát hiện dưới đống củi ngoài sân có ánh kim loại lấp lánh. Lại gần xem, thấy đó là một cái chuông lớn. Hắn quan sát kỹ, đoán chắc đây là cái chuông đúc từ đồng thượng hạng, trong lòng mừng rỡ khôn xiết, mắt cười tít lại.
Hắn vội vàng định vác chuông đi, nhưng cái chuông quá to, lại nặng, đừng nói là vác, ngay cả nhích đi cũng không nổi.

Nhìn thấy món hời sắp tuột khỏi tay, hắn quanh quẩn sốt ruột. Đúng lúc đó, hắn thấy dưới chân tường có một cái búa sắt lớn, trong đầu lập tức lóe lên một ý tưởng, vui mừng nói: “Đúng là trời giúp ta rồi!” Hắn lập tức cầm búa, dốc sức đập mạnh vào cái chuông, định đập vỡ thành từng mảnh nhỏ để dễ cho vào bao đem về.

Nhưng vừa mới đập, tiếng chuông vang lên ầm ầm chấn động, khiến hắn giật mình thót tim, mà tiếng “ong ong ong” cứ vang vọng mãi trên không trung, làm hắn muốn điếc cả tai. Hắn sợ người khác nghe thấy tiếng chuông sẽ chạy đến tranh giành, liền vội vàng lấy hai tay bịt chặt tai mình. Vì hắn không nghe thấy tiếng nữa, cứ tưởng rằng người khác cũng sẽ không nghe thấy, liền yên tâm tiếp tục đập. Mỗi lần đập, lại bịt tai thật chặt, đợi tiếng chuông ngớt rồi mới thả tay ra để đập tiếp. Thế là từng nhát búa một, tiếng chuông cứ vang dội khắp nơi. Người xung quanh nghe tiếng chuông lạ, kéo nhau ùn ùn tới, và bắt được hắn ngay tại trận.
← Quay lại danh sách thành ngữ