🎉 Khai giảng lớp HSK4 ngày 8/6  — Ưu đãi 40% học phí Xem ngay
general 22/03/2026 18:08 Cập nhật: 30/05/2026 20:53 Admin 46 lượt xem

CHUỖI BÀI VIẾT VỀ CÁC LỄ NGHI CỔ TRUYỀN Ở TRUNG QUỐC [4]: ĐIỂM LẠI CÁC VẤN ĐỀ VĂN HÓA CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHỮ “PHÚC”

CHUỖI BÀI VIẾT VỀ CÁC LỄ NGHI CỔ TRUYỀN Ở TRUNG QUỐC [4]: ĐIỂM LẠI CÁC VẤN ĐỀ VĂN HÓA CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHỮ “PHÚC”

1. Ý nghĩa của chữ Phúc

Chữ Phúc (福) ngày nay thường được hiểu là “hạnh phúc”, còn xưa chủ yếu chỉ “phúc khí”, “phúc vận”, là một trong những chữ cổ xưa, cát tường và được ưa chuộng nhất của văn hóa Trung Hoa. Hứa Thận trong Thuyết văn giải tự (說文解字) giải thích: “Phúc, hựu dã” (福,佑也 - Phúc là sự phù hộ); còn trong Lễ ký (禮記), thiên Tế thống (祭統) đời Tây Hán nói: “福者,備也。“ (Phúc giả, bị dã - Phúc là sự đầy đủ.)

Cách diễn giải hiện đại mở rộng ý nghĩa của “phúc” để bao hàm cả các nội dung của đời sống mới như an sinh xã hội, bảo hiểm y tế, thịnh vượng chung… Hình chữ giáp cốt của “福” mô tả hai tay nâng rượu tế trời, thể hiện ước vọng nguyên sơ về cuộc sống tốt đẹp. Chữ Phúc ngày nay gồm các bộ: 示, 一, 口 và 田. Bộ 示 chỉ thần linh; 田 chỉ ruộng đất, săn bắn; chữ 一 theo Thuyết văn giải thích: “Một là khởi nguyên tối sơ, đạo lập từ một, phân hóa trời đất, sinh thành vạn vật”; chữ 口, Thuyết văn nói: “Miệng là nơi con người nói và ăn.” Trong chữ Phúc này gửi gắm ước vọng của dân gian muốn có ruộng đất để đủ ăn đủ mặc.

Vào dịp Tết, ngoài dán câu đối, người ta còn có tục dán chữ Phúc ở giữa cánh cửa (đối với cửa đơn) hoặc trên xà cửa. Giống như câu đối, trước kia chữ Phúc đều viết trên giấy đỏ; tùy sở thích của chủ nhà mà dùng chữ khải, hành, thảo hay lệ, không câu nệ một kiểu. Đặc biệt có kiểu viết mỹ thuật, hai bên chữ được nhân hình hóa, vẽ thành cảnh đồng tử bái Quan Âm hoặc con hiếu bái mẹ, rất đẹp mà cũng mang ý nghĩa sâu xa. Dân gian còn vẽ chữ Phúc thành các hình tượng tinh xảo như ông Thọ, đào tiên, cá vượt long môn, ngũ cốc phong đăng, long phụng trình tường… đủ loại hình thức phong phú. Trong lịch sử còn có chữ Phúc nổi tiếng gọi là “Thiên hạ đệ nhất Phúc” do vua Khang Hy viết năm 1673 để cầu phúc trường thọ cho Thái hoàng thái hậu Hiếu Trang. Chữ Phúc này hàm ý “đa tử, đa tài, đa điền, đa thọ, đa phúc”. Sau đó được khắc trên bia đá lớn, đưa tới điện Kỳ Niên cầu phúc. Tương truyền sau khi vua quỳ trên bia cầu nguyện, Thái hậu khỏi bệnh, bia được thỉnh về cung thờ. Về sau vua Càn Long ban tặng cho Hòa Thân, người này đem giấu trong phủ đệ. Hiện bia “Phúc” này ở phủ Cung Vương tại Bắc Kinh, được xếp vào một trong “Trung Hoa tam tuyệt” và được bảo tồn bằng kính, không cho thác bản.


2. Về phong tục dán chữ Phúc và biểu tượng của con dơi

Phong tục dán chữ Phúc phát triển từ văn hóa đào phù. Sau thời Hán dần giản hóa, đến thời Đường – Tống người ta bắt đầu dùng giấy đỏ làm đào phù. Mộng Lương lục (夢粱錄) đời Tống có chép việc “vẽ đào phù”, “treo bài nghênh xuân”. Sách cũng ghi: Nhà nào cũng quét dọn cửa ngõ, thay môn thần, treo Chung Quỳ, đóng đào phù, dán “xuân bài”, tế tổ tiên. “Dán xuân bài” tức là viết chữ Phúc trên giấy đỏ dán trước cửa. Vì thế có thể thấy tục dán chữ Phúc ít nhất đã có từ Nam Tống, lịch sử rất lâu đời. Về nguồn gốc dân gian, truyền thuyết kể rằng tục dán chữ Phúc bắt đầu từ khi Khương Thái Công phong thần. Vợ ông là Mã thị cũng xin thần vị, ông đành phong bà làm “Thần Nghèo” (Cùng thần - 窮神) và quy định nơi nào dán chữ Phúc thì bà không được đến. Vì thế dân gian nhà nhà dán chữ Phúc, đốt pháo để xua vị thần này.

Ngoài ra, việc dán chữ Phúc còn dính líu tới một lưu truyền trong thời Minh. Tương truyền, vua Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương vốn xuất thân từ nông dân, ít học nên khi lên ngôi, vì mặc cảm với sự ít học của mình, đã không ít lần giết oan các công thân vì những chữ mình không biết trong các tấu sớ của họ. Trong thời Chu Nguyên Chương trị vì, vụ việc này gọi chung là “tai họa biểu tiên” (Biểu tiên chi hoạ - 表箋之禍). Nhiều người phạm vì dùng chữ “tắc”, do phương ngữ Giang Hoài đọc gần với “tặc”, Chu Nguyên Chương cho là ám chỉ mình từng làm giặc. Ví dụ Giáo thụ Hàng Châu Từ Nhất Khôi vì trong “Vạn thọ hạ biểu” (萬壽賀錶) có câu “quang thiên chi hạ, thiên sinh thánh nhân, vị thế tác tắc” (光天之下,天生聖人,為世作則), ba chữ “quang”, “sinh”, “tắc” đều phạm điều kiêng kị của Thái Tổ, khiến câu ca tụng thành ra như chửi nhà sư trọc đầu, lại ám chỉ quá khứ làm giặc. Chu Nguyên Chương xem xong nổi giận: “Hủ nho dám sỉ nhục trẫm sao? ‘Sinh’ là ám chỉ trẫm từng làm tăng; ‘quang’ là trọc đầu; ‘tắc’ gần với ‘tặc’! Tội không thể tha!” liền sai Cẩm y vệ chém đầu. Những vụ việc như vậy rất nhiều trong lịch sử, cho thấy tính tự ái của vua rất cao. Trong một hôm vi hành, Chu Nguyên Chương đi ngang qua một đám dân đang vây quanh một người họa sĩ, khi ghé tới nhìn, thấy rằng trong tranh là hình dáng một người phụ nữ rất đẹp nhưng hiềm vì bàn chân rất to nên bị chúng nhân xung quanh chê cười. Ngày xưa chỉ có phụ nữ nông dân là để chân to, còn phụ nữ quý tộc mới bó chân để chân nhỏ. Vua Minh vì nghĩ vợ mình là Mã hoàng hậu vốn là nông dân chân to, bị chê cười như vậy nên đâm ra tức tối trong lòng. Bèn hạ lệnh cho thuộc hạ theo dõi, hễ ai không chê cười phụ nữ chân to thì ghi trên cửa chữ Phúc, còn ngược lại thì không ghi. Sau khi dò xét và hành sự xong, Chu Nguyên Chương cho lính của mình đi đồ sát khắp nơi trong thành, chỉ tha cho người có chữ Phúc trước cửa nhà, còn giết hết những nhà không có chữ Phúc. Về sau trở thành tục dán chữ Phúc.

Có người vẽ hai con dơi hai bên chữ Phúc, ngụ ý “khắp nơi đều có phúc”; có người biến chữ Phúc thành họa tiết trang trí, kết hợp đầu hươu, đầu ông Thọ, quả đào… Ở làng Bạch Lộ, huyện Cám (Giang Tây), trên bức tường cổ của một gia đình họ Chung còn lưu giữ hoa văn chữ Phúc thời Minh – Thanh. Bức chạm hình chữ nhật, dài khoảng 1 m, rộng 75 cm, đặt chính giữa bức bình phong trước đại sảnh. Nét khắc mạnh mẽ, linh hoạt, thể hiện chữ Phúc vừa nghiêm chỉnh vừa sống động. Góc trái trên là hình “hươu ngoảnh đầu”, phía dưới nối với một con dơi dang cánh. Theo âm Hán, chữ “hươu” (Hán-Việt là Lộc 鹿) đồng âm với chữ “lộc” (祿 – Nghĩa là “bổng lộc”), chữ “dơi” (Hán-Việt là Bức 蝠), khi đọc theo Trung văn thì đồng âm với chữ “phúc” (福), nên ngụ ý “phúc lộc tương liên, phú quý dài lâu”. Góc phải trên vẽ đầu cổ hạc và mây lành, nối với chữ 田 viết chỉnh tề. Hạc tượng trưng trường thọ (Cổ đại TQ có câu: Tùng hạc diên niên - 松鶴延年), còn chữ 田 biểu trưng ruộng đất, nông nghiệp, thể hiện khát vọng sở hữu đất đai. Toàn bộ biểu tượng gợi lên ước mong: phúc từ ruộng mà sinh, thọ từ đất mà lên, có tước lộc mà không quên nông nghiệp.


3. Về vấn đề dán chữ Phúc ngược

Vấn đề dán chữ Phúc ngược có nhiêu thuyết, nhưng tựu trung có các thuyết sau:

Đầu tiên, phải quay trở ngược lại câu chuyện về Chu Nguyên Chương. Sau sự việc đó, Mã hoàng hậu hiền lương vì muốn tránh tai họa nên lệnh cho toàn thành trước bình minh phải dán chữ Phúc lên cửa. Có một nhà không biết chữ, lại dán ngược. Hôm sau hoàng đế sai người đi kiểm tra, thấy nhà nào cũng dán, không phân biệt được ai là mục tiêu. Đi khắp nơi chỉ thấy một nhà dán ngược nên báo lên. Hoàng đế nổi giận, lệnh bắt gia chủ xử chém cả nhà. Mã hoàng hậu thấy nguy, liền nói với Chu Nguyên Chương: “Bệ hạ biết vì sao họ dán ngược không?” Hoàng đế hỏi ý bà, bà đáp: “Họ biết hôm nay bệ hạ đến nên cố ý dán ngược, Phúc dán ngược là “Phúc đảo” [福倒], đọc đồng âm với “Phúc đáo” [福到], ý là ‘Phúc đến’.” Vua thấy hợp lý, bèn tha tội, tai họa được hóa giải. Từ đó dân gian dán ngược chữ Phúc, một là cầu may, hai là tưởng nhớ Mã hoàng hậu. Vì muốn thể hiện đầy đủ khát vọng hạnh phúc, việc dán ngược chữ Phúc cũng trở nên rất phổ biến.

Ngoài ra còn có giai thoại về Từ Hi thái hậu. Từ xưa có tục “hai mươi bốn tháng Chạp, nhà nhà viết chữ lớn”. Một năm đời Quang Tự, Từ Hi truyền lệnh cho Hàn Lâm viện viết câu đối chúc Tết. Các học sĩ dùng hết lời hoa mỹ viết xong dâng lên, nhưng bà thấy không có chữ Phúc nên rất không vui. Họ vội quỳ xin chỉ dạy, bà bảo: “Hãy viết vài chữ Phúc.” Họ liền viết nhiều chữ Phúc dâng lên, bà chọn mấy tờ sai tổng quản Lý Liên Anh đem dán khắp cung. Không ngờ có thái giám không biết chữ, dán ngược một tờ mà đêm ấy không ai phát hiện. Hôm sau Từ Hi đi xem, vừa thấy liền định nổi giận. Lý Liên Anh nhanh trí nói: “Đây là nô tài cố ý dán ngược. Chữ Phúc dán ngược tức ‘Phúc đến’, chẳng phải đại cát sao?” Từ Hi nghe vậy liền vui, không phạt mà còn thưởng bạc.

Cũng có chuyện ở phủ Cung Thân vương. Trước một dịp Tết thời Hàm Phong, quản gia viết mấy chữ Phúc thật to để dán ở kho và cổng phủ. Một gia đinh không biết chữ dán ngược ở cổng. Phúc tấn rất tức giận định phạt, may quản gia khéo miệng quỳ tâu: “Nô tài thường nghe nói vương gia phúc lớn thọ cao, nay đại phúc thật sự đã ‘đến’, ấy là điềm lành.” Phúc tấn nghe xong chuyển giận thành vui, nghĩ lời chúc nói nhiều thì tiền bạc cũng tăng, bèn thưởng cả quản gia lẫn gia đinh mỗi người một trăm lạng bạc.


4. Những nguyên tắc khi dán chữ Phúc

Những quy tắc dán chữ Phúc là kinh nghiệm do người xưa tổng kết. Chẳng hạn nhà nghèo dán “Cùng phúc” (窮福 - Phúc nghèo): Trước kia những người nghèo mắc nợ thường sau lễ Tiểu niên hoặc sáng ba mươi Tết vội dán chữ Phúc lên cửa, để ngăn chủ nợ đến đòi, vì một khi đã dán Phúc ngoài cửa thì coi như đã vào năm mới, chủ nợ không thể đến ép nữa; việc này gọi là “Phúc nghèo”. Thời gian thật sự để dán chữ Phúc nên là chiều ngày giao thừa, trước khi mặt trời lặn. Nếu năm đó không có ngày ba mươi âm lịch thì hoàn thành trong ngày trừ tịch (tức đêm giao thừa 29). Thứ tự dán phải từ ngoài vào trong, bắt đầu từ cửa lớn: trước dán Phúc treo cao (ở vị trí cao), rồi dán Phúc ngay cửa, cuối cùng mới dán Phúc ngược trong nhà; kích thước chữ Phúc cũng nên từ lớn đến nhỏ, tượng trưng phúc khí của năm mới chảy từ ngoài vào nhà.

Ngày nay, việc dán ngược chữ Phúc chủ yếu xuất hiện trong các trường hợp sau: 1, Trên các tủ trong nhà; 2, Trên thùng rác và chum nước; 3, Ở nhà vệ sinh hoặc những nơi ô uế; 4, Khi trong nhà xảy ra chuyện không may. Nhà dân tục học Vương Tác Tập nói rằng trong văn hóa truyền thống quả thực có những chỗ dán ngược chữ Phúc, nhưng là trên các vật dụng như thùng rác, xô nước v.v. Theo lý giải của tác giả thì:

- Việc dán trong tủ trong nhà (Trường hợp 1): Tủ là nơi lưu trữ của cải, vật dụng. Khi dán ngược chữ Phúc trên tủ, người ta mong muốn "phúc" sẽ đổ vào bên trong tủ, ngụ ý tiền tài, phúc lộc chỉ có vào mà không có ra.

- Việc dán trong thùng rác và Lu nước (Trường hợp 2): Đây là những vật dụng mà khi sử dụng, ta phải thực hiện động tác đổ ra/trút đi. Người xưa quan niệm rằng khi đổ rác hay đổ nước, "phúc khí" có thể theo đó mà trôi ra ngoài. Việc dán ngược chữ Phúc ở đây mang ý nghĩa: Khi bạn làm động tác "đổ" (đảo) rác, thì chữ Phúc vốn đang ở trạng thái "ngược" (đảo) sẽ trở thành "Phúc Đáo" (Phúc đến). Nó giống như một sự bù đắp tâm linh, biến hành động vứt bỏ cái xấu thành hành động đón nhận cái may.

- Việc dán trong nhà vệ sinh và nơi ô uế (Trường hợp 3): Ở những nơi không sạch sẽ, việc dán ngược chữ Phúc được xem là cách để "hóa giải" tà khí. Ngoài ra, nó cũng phản ánh sự khiêm nhường; người ta không dán chữ Phúc ngay ngắn (trang trọng nhất) ở những nơi thấp kém để thể hiện sự kính trọng với vận may.

- Dán khi trong gia đình có chuyện không may (Trường hợp 4): Đây là một liệu pháp tâm lý. Khi vận đen bủa vây, việc dán ngược chữ Phúc thể hiện mong muốn "đảo ngược tình thế". Người ta hy vọng cái rủi qua đi và cái may (Phúc Đáo) sẽ lập tức ập đến để thay đổi cục diện hiện tại.

Mặc dù các vị trí trên được dán ngược, nhưng Cửa chính lại là ngoại lệ quan trọng nhất. Cửa chính là "khí khẩu" (miệng đón khí), nơi đón phúc vào nhà. Chữ Phúc ở cửa chính phải dán ngay ngắn, nghiêm chỉnh. Nếu dán ngược ở cửa chính, nó mang ý nghĩa là Phúc chưa vào đến cửa đã bị "đổ" đi mất, hoặc "phúc đến cửa rồi lại quay đầu". Tóm lại, việc dán ngược chữ Phúc trên thùng rác hay xô nước là một cách "mượn cái sai để cầu cái đúng", biến hành động đổ bỏ đi (cái tiêu cực) thành lời cầu chúc phúc đến (cái tích cực). 

✓ Đã sao chép link!